Cục trưởng Cục Thuế TP. Đà Nẵng Trần Văn Miên: Kiến nghị thu nợ thuế
Trong 6 tháng đầu năm 2010, ngành Thuế TP Đà Nẵng đã thực hiện thông báo phạt chậm nộp trên 7.500 lượt, mời làm việc 720 lượt doanh nghiệp có nợ thuế lớn để giải thích, động viên việc chấp hành nghĩa vụ thuế; áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế đối với 430 lượt... và đã thu được trên 8 tỷ đồng tiền nợ... Đồng thời, Cục Thuế TP. Đà Nẵng phân loại các doanh nghiệp (DN) nợ đọng thuế theo từng mức độ và xây dựng lộ trình cam kết nộp thuế cho phù hợp; triển khai các Tổ chống đọng thuế đến các DN nợ đọng lớn để kịp thời chn chỉnh đã thu được những kết quả nhất định... Các chi cục thuế quận, huyện đã tham mưu cho UBND quận, huyện ban hành văn bản về tăng cường các biện pháp chống thất thu, chống nợ đọng tiền thuế có hiệu quả...
Tuy nhiên, để công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đạt kết quả tốt, Cục Thuế TP. Đà Nẵng kiến nghị:
Một là, về quy trình quản lý nợ: Đối với khoản nợ do phá sản rất lớn, lâu đời, hiệu quả thu rất thấp, đề nghị sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản của tòa án; cơ quan thuế được phép chuyển nợ ngay và bổ sung quy định cho cơ quan thuế được quyền tuyên bố phá sản đối với người nộp thuế không còn khả năng thanh toán hoặc chuyển sang cơ quan điều tra để truy tố theo Luật Hình sự.
Hai là, về phạt nộp chậm: Do quy định không tính phạt trên phạt nộp chậm, dẫn đến số nợ từ phạt nộp chậm rất lớn và khó cho việc thu hồi. Đề nghị đổi từ phạt nộp chậm sang tính lãi chiếm dụng ngân sách và doanh nghiệp được đưa vào chi phí.
Ba là, về gia hạn nộp thuế, việc gia hạn nộp thuế chỉ được áp dụng trong một số trường hợp có khó khăn đặc biệt theo quy định của Chính phủ (thiên tai, dịch họa, dịch chuyển nơi sản xuất theo yêu cầu của Nhà nước, thay đổi chính sách). Các quy định này chưa xem xét đối với các đơn vị có khó khăn khách quan về tình hình tài chính như: Bị chậm thanh toán ngân sách, chu kỳ sản xuất dài, khả năng thu hồi vốn chậm dẫn đến nợ thuế; cũng như chưa có cơ chế khuyến khích đối với các đơn vị nỗ lực vượt qua khó khăn để hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế. Cục Thuế TP. Đà Nẵng đề nghị mở rộng đối tượng được xem xét gia hạn nộp thuế do nguyên nhân khách quan hoặc đang trong thời gian chờ giải quyết hoàn thuế và các khoản nợ xây dựng cơ bản thuộc vốn ngân sách; cho phép chủ động phân loại doanh nghiệp có khó khăn để xây dựng lộ trình cam kết nộp nợ phù hợp và nếu thực hiện nộp nợ thuế theo đúng cam kết thì không tính phạt nộp chậm.
Bốn là, về quy trình cưỡng chế nợ thuế: Đề nghị cho phép áp dụng linh hoạt các biện pháp cưỡng chế nợ thuế hoặc không nhất thiết phải thực hiện một cách tuần tự như qui định hiện nay nếu chứng minh được các biện pháp khác không đủ điều kiện thực hiện. Mặt khác, để nâng cao hiệu quả công tác cưỡng chế nợ thuế, đối với các trường hợp người nộp thuế có khoản nợ trên 90 ngày, cần quy định cho phép thực hiện cưỡng chế thu hồi tất cả các khoản nợ và cần qui định bổ sung mức nợ tối thiểu phải cưỡng chế.
Năm là, đề nghị cho phép cơ quan thuế được chủ động điều chỉnh mục thu từ tiền thuế sang tiền phạt theo nguyên tắc nợ trước thu trước (quy chế phối hợp giữa Thuế - Kho bạc); thiết lập cơ sở pháp lý cho việc phối hợp xử lý thu hồi nợ thuế giữa các ngành: Bộ Tài chính - Ngân hàng - Bộ Kế hoạch và Đầu tư từ Trung ương đến địa phương và giữa các địa phương với nhau.
Sáu là, đề nghị Tổng cục Thuế khi giao chỉ tiêu nợ cần có nghiên cứu đặc thù của từng địa phương và trên cơ sở số nợ có khả năng thu (theo phân loại nợ định kỳ) để có tính khả thi cao. Đồng thời sớm triển khai chương trình ứng dụng quản lý nợ tại các Chi cục Thuế để hiện đại hoá công tác quản lý nợ của toàn ngành và hợp lý hóa công việc tại các Đội Thuế.
Cục trưởng Cục Thuế TP. Hà Nội Phi Vân Tuấn: Hiệu quả thực hiện khai thuế qua mạng Internet
Đến nay, Cục thuế TP. Hà Nội đã duy trì tốt việc kê khai thuế qua mạng cho 715 doanh nghiệp (DN) thí điểm kê khai thuế qua mạng từ cuối năm 2009 và đầu năm 2010. Đồng thời, Cục đang tích cực chuẩn bị các điều kiện để mở rộng diện kê khai thuế qua mạng với trọng tâm là triển khai thí điểm cho các DN lớn và các DN trọng điểm có số thu lớn. Dự kiến từ kỳ kê khai thuế tháng 7/2010 sẽ có thêm 500 DN tham gia, đưa tổng số DN kê khai thuế qua mạng lên 1.200 DN.
Mặc dù trong quá trình thí điểm dự án đã mang lại hiệu quả tốt cho DN và cho cơ quan thuế như với DN: Có thể gửi hồ sơ kê khai 24/24 giờ trong 7 ngày của tuần làm việc và có thể gửi bất cứ ở đâu có mạng intemet. Hàng tháng, DN không phải trực tiếp đến cơ quan thuế chờ đợi xếp hàng để chờ nộp hồ sơ khai thuế như trước đây. DN tiết kiệm được chi phí in ấn bởi tất cả dữ liệu đã được gửi qua mạng và được đảm bảo tính pháp lý; đặc biệt đối với các DN có bảng kê sử dụng hoá đơn lớn sẽ tiết kiệm nhiều về chi phí. DN hoàn toàn có thể tra cứu được dữ liệu kê khai của mình đã gửi cho cơ quan thuế; đồng thời dữ liệu thông tin của DN cũng được mã hoá để bảo mật thông tin. Dự án tạo điều kiện thuận lợi cho DN tiếp cận với giao dịch thương mại điện tử, chính phủ điện tử.
Với cơ quan thuế, dự án này góp phần giải quyết được tình trạng ùn tắc tại bộ phận “một cửa”, giảm áp lực cho cán bộ khi đến những ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế, từ đó có thể giảm chi phí nguồn lực trong việc tiếp nhận hồ sơ khai thuế. Mặt khác, dữ liệu vào phần mềm quản lý của cơ quan thuế đảm bảo chính xác, cập nhật. Cơ quan thuế thuận lợi hơn trong việc khai thác các dữ liệu gửi qua mạng, việc cho phân tích rủi ro; nhất là với việc tra cứu sử dụng hoá đơn sau này được nhanh chóng thuận tiện; giảm chi phí và các nguồn lực trong việc lưu trữ hồ sơ tại cơ quan thuế; từng bước theo kịp với trình độ quản lý thuế của các nước trong khu vực...
Phó Cục trưởng Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh Lê Xuân Dương: Sớm thông qua phương án thành lập trung tâm tích hợp và lưu trữ thông tin người nộp thuế
Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh hiện đang quản lý thu thuế trên 130 nghìn doanh nghiệp, 240 nghìn hộ kinh doanh cá thể, 1.700 nghìn mã số thuế cá nhân, gần 1 triệu hộ chịu thuế nhà đất. Trong khi đó, công tác quản lý thông tin của người nộp thuế (NNT) ngày càng phong phú và đa dạng, phức tạp. Số tổ chức, cá nhân nộp thuế mới phát sinh tăng nhanh qua các năm, nhưng số tổ chức, cá nhân nộp thuế đang kinh doanh ngưng nghỉ, bỏ trốn, di chuyển đế, đến, đi trên địa bàn thành phố cũng khá nhiều... Công việc đối chiếu, xác minh biến động, cập nhật thông tin, giải quyết các thủ tục hành chính khác cho các đối tượng này mất rất nhiều thời gian.
Mặc dù trong nhiều năm qua, ngành Thuế TP. Hồ Chí Minh đã được trang bị các thiết bị tin học, chủ động ứng dụng triệt để các phần mền quản lý nhằm tích hợp và lưu trữ được các thông tin của NNT. Tuy nhiên, các loại thông tin liên quan đến NNT được lưu trữ trên hệ thống máy tính và lưu trữ tại các kho của Cục Thuế hiện còn phân tán, chưa hợp lý, chưa khoa học; thông tin chưa được cập nhật, xử lý và lưu trữ chưa chính xác, chưa kịp thời, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý và điều hành ở một Cục Thuế lớn như Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh.
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong việc tích hợp và lưu trữ thông tin NNT hiện tại, phù hợp với chương trình cải cách hiện đại hoá công tác quản lý thuế, đáp ứng yêu cầu của Luật Quản lý thuế, đảm bảo có một hệ thống thông tin hoàn chỉnh về NNT, đáp ứng yêu cầu quản lý trong thời gian tới. Do đó, đòi hỏi phải có một bộ phận chuyên sâu về thu thập, số hoá, tích hợp và lưu trữ thông tin NNT; hơn nữa công nghệ và giải pháp số hoá dự liệu hiện tại có thể giúp việc lưu trữ, truy suất, chia sẻ, tìm kiếm thông tin một cách dễ dàng, linh hoạt sang các loại dữ liệu khác, giảm chi phí tối đa trong quản lý, không gian lưu trữ...
Với những yêu cầu trên, Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh đã xúc tiến nghiên cứu xây dựng Trung tâm tích hợp và lưu trữ thông tin NNT. Vậy, đề nghị Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính sớm thông qua phương án được Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh đã trình để đơn vị thực hiện.